TRUNG TÂM THÔNG TIN & TƯ VẤN BẢO HIỂM ONLINE

Hotline: 1900.9068

Tìm hiểu nguyên tắc và cách hoạt động của Bảo hiểm Nhân thọ

Bảo hiểm Nhân thọ được tạo ra để con người có thể bù đắp hỗ trợ lẫn nhau khi rủi ro xảy ra. Vậy bạn có biết nguyên tắc hoạt động và cách vận hành của Bảo hiểm Nhân thọ như thế nào chưa?

Ví dụ có 1.000 người và theo thống kê trong năm sẽ có 3 người chết. Thay vì ngồi chờ sự rủi ro xảy ra, thay vì cầu trời mình không phải là 1 trong 3 người đó thì 1.000 người này chủ động bảo vệ trước rủi ro bằng cách mỗi người đóng vào quỹ chung 1 đồng, sẽ được tất cả là 1.000 đồng. Khi rủi ro tử vong xảy ra với 3 người nào đó, thì 1.000 đồng này sẽ được chia đều cho gia đình của 3 người này- mỗi gia đình sẽ được nhận 333 đồng.

Như vậy 1 đồng đã được bỏ ra để mua sự an tâm. Nếu rủi ro xảy ra thì gia đình được 333 đồng để qua cơn khó khăn vì mất người lao động chính.

Cách vận hành của công ty Bảo hiểm Nhân thọ

Tìm hiểu nguyên tắc và cách hoạt động của Bảo hiểm Nhân thọ

Thay vì 1.000 người tự nguyện hợp tác với nhau để chia sẻ rủi ro như vậy thì công ty Bảo hiểm Nhân thọ sẽ thực hiện việc thu mỗi người 1 đồng hàng năm và thực hiện việc đền bù này. Đương nhiên công ty Bảo hiểm Nhân thọ phải trích từ quỹ chung này 1 phần tiền cho chi phí và lợi nhuận của họ.

Công ty Bảo hiểm Nhân thọ phải thẩm định tuổi, sức khoẻ, hoàn cảnh sống của những người tham gia bảo hiểm để đảm bảo rằng họ có cùng mức rủi ro. Trong ví dụ trên nếu trong 1.000 người đó có người cao tuổi hơn, hoặc có sẵn các loại bệnh nguy hiểm… tức là tỷ lệ tử vong không phải ở mức 3/1000, mà là 4/1000 hay 8/1000 thì họ phải được đưa vào nhóm 1.000 người khác với tỷ lệ tử vong và mức phí cao hơn tương ứng.

Hành vi của những người có tỷ lệ, rủi ro tử vong cao mà không “khai báo” thành thật với công ty Bảo hiểm Nhân thọ nhằm mục đích được mua bảo hiểm ở mức phí thấp hơn, gọi là Anti Selection. Dĩ nhiên công ty Bảo hiểm Nhân thọ không thích khách hàng Anti Selection và sẽ không đền bù khi có bằng chứng rõ ràng về hành vi Anti Selection của khách hàng.

Trở lại ví dụ 1.000 người góp 1 đồng. Sản phẩm đó gọi là sản phẩm Tử kỳ (từ tiếng Anh là Term Life). Gia đình khách hàng được nhận 333 đồng nếu rủi ro xảy ra và mất 1 đồng nếu rủi ro không xảy ra.

Thế nhưng nhiều khách hàng không thích mất 1 đồng này. Họ muốn được bảo hiểm nhưng lấy lại tiền mà họ đã đóng vào công ty Bảo hiểm Nhân thọ. Vì thế, ngoài sản phẩm bảo hiểm Tử kỳ các công ty Bảo hiểm Nhân thọ phát triển thêm các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ khác.

Thay vì chỉ thu 1 đồng cho Bảo hiểm, công ty Bảo hiểm Nhân thọ sẽ thu thêm nhiều đồng nữa, giả sử là 20 đồng. Khi công ty Bảo hiểm Nhân thọ thu 20 đồng hàng năm và thu trong nhiều năm (10 năm, 15 năm, 20 năm hay trọn đời) thì hàng năm họ sẽ có 1 đồng để lo cho việc rủi ro, x đồng cho chi phí, y đồng cho lợi nhuận và (19-x-y) đồng để đầu tư dài hạn vào các công cụ đầu tư như trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư…

Nhờ vào việc đầu tư này mà tổng số tiền vào cuối hợp đồng của khách hàng sẽ lớn hơn so với số phí mà khách hàng đã đóng vào, và vì thế khách hàng cũng sẽ thích hơn. Họ không có cảm giác bị mất phí cho bảo hiểm như trường hợp sản phẩm bảo hiểm Tử kỳ. Không chỉ được bảo hiểm, họ còn được nhận lại tiền gốc cộng lãi.

Công ty Bảo hiểm Nhân thọ gọi các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ truyền thống là Bảo vệ + Tiết kiệm, các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ liên kết đầu tư là Bảo vệ + Đầu tư.

So sánh Bảo hiểm Nhân thọ với gửi tiền ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư

Nếu người mua cho rằng bản thân mình không có bất kỳ rủi ro nào (tử vong, thương tật toàn bộ, bệnh hiểm nghèo…) thì tỷ lệ lợi nhuận của Bảo hiểm Nhân thọ truyền thống sẽ thấp hơn tiền gửi ngân hàng, tỷ lệ lợi nhuận của Bảo hiểm Nhân thọ liên kết đầu tư sẽ thấp hơn việc đầu tư trực tiếp vào chứng chỉ quỹ đầu tư.

Nhưng nếu rủi ro xảy ra, mà chắc chắn rủi ro sẽ xảy ra với một số người ngẫu nhiên nào đó, thì người mua hoặc gia đình của họ sẽ nhận được khoản tiền lớn hơn rất nhiều so với số tiền họ đã đóng vào. Sản phẩm tiền gửi ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư hoàn toàn không có lợi ích này.

Một điểm lợi nữa của Bảo hiểm Nhân thọ là sự đóng phí bắt buộc định kỳ: hàng tháng, hàng quý hay hàng năm. Đối với ngân hàng thì hàng năm khách hàng muốn gửi bao nhiêu thì gửi, muốn rút ra bao nhiêu thì rút. Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư khách hàng muốn mua hay bán thoải mái. Việc này tạo ra sự tiện lợi cho khách, nhưng cũng là một trở ngại cho việc tạo ra một số tiền lớn trong tương lai.

Nhưng đối với Bảo hiểm Nhân thọ thì khác. Khách hàng phải đóng tiền vào đều đặn, nếu ngừng đóng thì hợp đồng bị giảm mệnh giá, hoặc cao hơn là bị mất hiệu lực. Nói cách khác, khách hàng bị buộc phải tiết kiệm/đầu tư vào Bảo hiểm Nhân thọ một cách có kỷ luật.

Đối với Bảo hiểm Nhân thọ, khách hàng cũng không được rút tiền một cách thoải mái, nếu rút sớm khách hàng chỉ nhận được một phần số tiền phí đã đóng vào. Chỉ khi hợp đồng đáo hạn thì khách hàng mới nhận được giá trị lớn nhất của hợp đồng.

Như vậy, Bảo hiểm Nhân thọ đã vận hành theo đúng nguyên tắc của bài 1 – Tài chính cá nhân “Tiết kiệm đều đặn 1 số tiền hàng tháng/ hàng năm, và đầu tư số tiền này, bạn sẽ có cả 1 gia tài”.

Chính vì thế mỗi chúng ta nên dành 5%-15% thu nhập của mình vào những sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ phù hợp với hoàn cảnh và nhu cầu.

So sánh các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ

Một trong những vấn đề được khách hàng quan tâm là so sánh giá trị, lợi ích của các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ. Đa số khách hàng có thể so sánh sản phẩm tiền gửi của các ngân hàng bằng cách so sánh lãi suất tiền gửi của các sản phẩm cùng kỳ hạn nhưng rất ít khách hàng có thể so sánh sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ.

Có nhiều lý do dẫn đến việc này:

  • Các công ty Bảo hiểm Nhân thọ thiết kế sản phẩm khác nhau, mỗi sản phẩm chọn những điểm ưu việt riêng, nên rất khó đưa về cùng hệ quy chiếu để so sánh.
  • Sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ có 2 giá trị chính là đền bù khi rủi ro và giá trị nhận lại khi đáo hạn. Với cùng lứa tuổi và sức khoẻ chuẩn thì các công ty bảo hiểm sẽ thiết kế mức phí bảo hiểm khác nhau và đền bù khi các rủi ro xảy ra khác nhau.
  • Về giá trị đáo hạn, nếu khách hàng biết tách phí dành cho bảo hiểm ra rồi đưa dòng tiền phí đóng vào và các dòng tiền nhận được khi đáo hạn vào công thức IRR sẽ tính được tỷ suất lợi nhuận của dòng tiền đầu tư.  IRR (tỷ lệ hoàn vốn nội bộ) là tỷ lệ lợi nhuận được sử dụng trong lập ngân sách vốn để đo lường và so sánh các lợi nhuận đầu tư.

Tuy nhiên các giá trị nhận được khi đáo hạn, liệt kê trong bảng minh hoạ không phải là những con số cố định mà chỉ là những dự đoán và sẽ thay đổi theo kết quả đầu tư thật của các công ty.

Vì thế việc so sánh 2 giá trị chính của các sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ cần có kiến thức cơ bản và cũng chỉ cho giá trị tương đối.

Trên thực tế, ngoài 2 giá trị chính của Bảo hiểm Nhân thọ khách hàng ra quyết định mua dựa trên những yếu tố như uy tín và thương hiệu của công ty Bảo hiểm Nhân thọ; được tư vấn đúng thời điểm có nhu cầu; sự tư vấn của các chuyên viên/ đại lý Bảo hiểm Nhân thọ.

Thực tế cho thấy chuyên viên nào tạo được niềm tin từ khách, giúp cho khách hàng hiểu về Bảo hiểm Nhân thọ, tư vấn đúng không nói sai sự thật và tư vấn đúng sản phẩm Bảo hiểm Nhân thọ phù hợp cho khách hàng sẽ là người được chọn.

Bình luận